Khi nào bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú?

0
115
Đánh giá

Cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong những biện pháp ngăn chặn được pháp luật thừa nhận tại Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Vậy trường hợp nào bị can, bị cáo bị cấm đi ra khỏi nơi cư trú?

Khi nào bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú?
Bài viết được thực hiện bởi Chuyên viên Trần Thu Hoài – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Cấm đi khỏi nơi cư trú là gì?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật cư trú 2020, nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú. Theo đó:

(i) Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú – Khoản 8 Điều 2;
(ii) Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký tạm trú – Khoản 9 Điều 2 Luật cư trú 2020.

Như vậy, cấm đi khỏi nơi cư trú là cấm đi khỏi nơi sinh sống ổn định, lâu dài và đã đăng kí hộ khẩu thường trú của bị can, bị cáo hoặc nơi họ sinh sống và đã đăng ký tạm trú. Điều này không có nghĩa là họ bị cách ly khỏi gia đình, xã hội mà với biện pháp trên, họ vẫn được làm việc bình thường tuy nhiên bị hạn chế quyền tự do cư trú và đi lại của mình trong một không gian, thời gian nhất định.

Biện pháp ngăn chặn này ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam, do đó, đối tượng của biện pháp này thường là bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, có thái độ thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra và có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở cho quá trình tố tụng hoặc không tiếp tục phạm tội.

Ai là người có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người có thẩm quyền ra lệnh cấm rời khỏi nơi cư trú bao gồm:

(i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

(ii) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

(iii) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử;

(iv) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa;

(v) Đồn trưởng Đồn biên phòng.

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra lệnh, họ tên, chức vụ của người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, nơi họ được phép cư trú và lệnh này phải giao cho bị can, bị cáo một bản.

Bên cạnh đó, người có thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lý họ và giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó thực hiện việc quản lý, theo dõi họ.

Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà bị can, bị cáo buộc phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Khi nào bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú?
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

(i) Không đi khỏi nơi cư trú nếu chưa được hoặc không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

(ii) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì trở ngại khách quan hoặc có lý do bất khả kháng;

(iii) Tuyệt đối không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

(iv) Không mua chuộc, xúi giục, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo tài liệu, chứng cứ, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, trả thù người làm chứng, người bị hại, người đã tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Nếu bị can bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan trên thì sẽ bị tạm giam theo quy định.

Quy định pháp luật về cấm đi khỏi nơi cư trú

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn cấm rời khỏi nơi cư trú áp dụng với bị can, bị cáo không được vượt quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này.

Bên cạnh đó, điều luật trên cũng quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú áp dụng với người bị kết án phạt tù không được quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, bạn đọc có thể xem thêm các bài viết liên quan tại Luật Tố tụng

Khuyến nghị công ty Luật TNHH Everest 

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm muc địch nghiên Cứu khoa học hoặc phố biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhàm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó chỉ có thể là quan điểm cá nhân của nguời viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vẫn đề có liên quan hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư ván pháp luật: 1900 6198, Emai: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây